CÁC CHUYÊN MỤC
Văn bản mới
Thư viện ảnh
Skip Navigation Links.
Expand Ngày nhà giáo Việt NamNgày nhà giáo Việt Nam
Expand Hoạt động của trườngHoạt động của trường
Expand Tổng kết năm họcTổng kết năm học
Expand Khai giảng năm họcKhai giảng năm học
Expand Hoạt động Công ĐoànHoạt động Công Đoàn
Ảnh nhân sự nhà trường
hoạt động
Tìm kiếm thông tin
Tiêu đề:
Từ khóa:
Liên kết Website
  • Bản tin chi tiết
    • Thông báo các thông tin về phòng chống dịch trong học đường
      Các em học sinh vào trang web của nhà trường để xem tuyên truyền về phòng chống dịch trong học đường

      TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN PHÒNG CHỐNG MỘT SỐ

      BỆNH Ở TRƯỜNG HỌC

      PHÒNG, CHỐNG BỆNH VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP DO CHỦNG MỚI CỦA VIRUS CORONA (COVID-19)

      Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (COVID-19) là bệnh truyền nhiễm cấp tính thuộc nhóm A, có khả năng lây lan nhanh từ người sang người.

      1. Đường lây truyền: bệnh lây truyền từ người sang người theo đường hô hấp, qua các giọt nước bọt hay dịch tiết mũi họng khi ho, hắt hơi, hoặc lây qua tiếp xúc với một số đồ vật có chứa vi rút rồi qua bàn tay đưa lên mắt, mũi, miệng.

      2. Triệu chứng: sốt, ho, khó thở, trường hợp viêm phổi nặng có thể gây suy hô hấp cấp và nguy cơ tử vong, đặt biệt ở những người có bệnh lý mạn tính. Một số người nhiễm COVID-19 có thể có biểu hiện lâm sàng nhẹ, không rõ triệu chứng nên gây khó khăn cho việc phát hiện.

      3. Điều trị: đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và vắc xin phòng bệnh. Ngoài các biện pháp vệ sinh cá nhân thì vệ sinh, khử khuẩn môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng trọng việc giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm bệnh.

      4. Cách phòng tránh:

      - Tăng cường vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và nước sạch ít nhất 30s. Trong trường hợp không có xà phòng và nước sạch thì dùng các sản phẩm vệ sinh tay có chưa cồn (ít nhất 60% cồn).

      - Súc miệng họng bằng nước muối hoặc nước súc miệng thường xuyên.

      - Tránh chạm tay vào mắt, mũi, miệng

      - Che kín mũi, miệng khi ho, hắt hơi bằng khủy tay áo, khăn vải hoặc khăn tay hoặc khăn giấy để giảm phát tán các dịch tiết hô hấp ra không khí. Giặt sạch khăn hoặc bỏ ngay khăn giấy vào thùng rác sau khi sử dụng và rửa tay sạch.

      - Không khạc nhổ bừa bãi

      - Duy trì các thỏi quen tốt cho sức khỏe như tập thể dục, tích cực vận động cơ thể, ăn uống hợp vệ sinh, đủ chất, giữu ấm mũi họng, nâng cao thể trạng.

      - Hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh đường hô hấp cấp tính (sốt, ho, khó thở), trong trường hợp cần thiết phải đeo khẩu trang y tế đúng cách và giữ khoảng cách khi tiếp xúc

      - Nếu bản thân hoặc thấy học sinh khác có dấu hiệu sốt,ho, khó thở thì báo ngay cho giáo viên chủ nhiệm.

      5. Hướng dẫn rửa tay đúng cách:

      5.1. Các thời điểm cần rửa tay:

      - Sau khi ho, hắt hơi

      - Sau khi tháo khẩu trang

      - Khi chăm sóc người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh

      - Sau khi tiếp xúc với dịch tiết mũi, họng của người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh

      - Trước, trong và sau khi nấu ăn

      - Trước khi ăn

      - Sau khi đi vệ sinh

      - Sau khi tiếp xúc với động vật hoặc chất thải của động vật

      5.2. Quy trình rửa tay thường quy:

      Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước chảy ít nhất 30 giây mỗi lần. Nếu không có xà phòng và nước sạch thì sử dụng dung dịch vệ sinh tay có chứa cồn (ít nhất 60% cồn)

      Bước 1: Làm ướt tay bắng nước và xà phòng. Chà 2 lòng bàn tay và nhau

      Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại (5 lần)

      Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ ngón tay (5 lần)

      Bước 4:Chà mặt ngoài các ngón tay này vào lòng bàn tay kia (5 lần)

      Bước 5: Xoay ngón tay cái của bàn tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại (5 lần)

      Bước 6: xoay các đầu ngón tay của tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại. Làm sạch tay dưới vòi nước chảy đến cổ tay và lau khô.

      6. Sử dụng khẩu trang đúng cách

      6.1. Đối với khẩu trang y tế:

      a. Những người cần đeo khẩu trang y tế:

      - Cán bộ y tế tiếp xúc với người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh, tiếp xúc với mẫu bệnh phẩm

      - Người chăm sóc hoặc tiếp xúc với người mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh

      - Người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh, người trong diện cách ly

      - Người đến cơ sở y tế, người thực hiện nhiệm vụ trong vùng có dịch bệnh

      b. Đeo khẩu trang y tế đúng cách: khẩu trang y tế chỉ dùng 1 lần

      - Đeo mặt màu (xanh/xám) ra ngoài, mặt trắng vào trong, kẹp nhôm hướng lên trên, ấn kẹp nhôm ôm sát vào sống mũi

      - Che kín cả mũi miệng

      - Không sờ tay vào bề mặt khẩu trang trong thời gian đeo

      - Tháo khẩu trang bằng cách cầm vào giây đeo rồi bỏ ngay vào thùng rác

      * Rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước chảy hoặc chà tay bằng nước rửa tay có cồn sau khi tháo khẩu trang

      6.2. Đối với khẩu trang vải:

      a. Những người cần đeo khẩu trang vải:

      Người khỏe mạnh, không có dẫu hiệu về bệnh đường hô hấp như sốt, ho, khó thở, chảy nước mũi… khi đến các khu vực tập trung đông người nhe bến xe, nhà ga, sân bay, siêu thị…

      b. Đeo khẩu trang vải đúng cách:

      - Che kín cả mũi, miệng

      - Không sờ tay vào bề mặt khẩu trang trong suốt thời gian đeo

      - Chỉ cầm vào dây đeo khi tháo khẩu trang

      - Giặt khẩu trang hằn ngày bằng xà phòng để dùng cho lần sau.

      7. Hướng dẫn vệ sinh môi trường, khử khuẩn tại trường học:

      7.1. Dung dịch tẩy rửa: khử khuẩn bằng các chất tẩy rửa thông thường như dung dịch tẩy rửa đa năng hoặc dung dịch có chứa 0.05% clo hoạt tính hoặc dung dịch có chứa 60% cồn. Ưu tiên khử khuẩn bằng cách lau rửa.

      Lưu ý: để xa tầm tay trẻ em các chai lọ đựng chất khử khuẩn

      7.2. Vệ sinh khử khuẩn:

      - Mỗi ngày 1 lần sau buổi học: lau khử khuẩn nền nhà, tường nhà (nếu có thể), bàn ghế, đồ chơi, dụng cụ học tập, đồ vật trong phòng học, phòng chức năng. Dọn vệ sinh lau rửa, khử khuẩn khu vực rửa tay, nhà vệ sinh

      - Mỗi ngày 2 lần sau giờ học buổi sáng và cuối ngày, lau khử khuẩn tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, tay vịn lan can, nút bấm thang máy

      - Cuối buổi học phải mở cửa phòng học tạo sự thông thoáng

      - Mỗi ngày 2 lần sau mỗi chuyến đưa đón học sinh: lau khử khuẩn tay nắm cửa xe, tay vịn, ghế ngồi, cửa sổ, sàn xe

      - Hạn chế sử dụng đồ chơi bằng các vật liệu không khử khuẩn được

      - Bố trí thùng đựng rác, thu gom xử lý hằng ngày

      - Trường hợp học sinh có biểu hiện sốt, ho, khó thở nghi ngờ hoặc có xét nghiệm dương tính với COVID-19 thì thực hiện khử khuẩn theo hướng dẫn của cơ quan y tế địa phương.

       

       

       

       

       

       

       

      BỆNH SỞI

      - Bệnh sởi rất dễ lây, thường gặp ở trẻ em và có khả năng gây thành dịch. Bệnh có khả năng gây ra miễn dịch khá bền vững, do đó ở những trẻ đã mắc bệnh sởi thường ít bị mắc lại lần thứ 2 (tỷ lệ mắc lại chỉ chiếm khoảng 1%).

      - Người bệnh có thể lây cho người khác 1-3 tuần trước khi khởi phát và cho tới khi ban sởi bay hết.

      Nguyên nhân:

      Bệnh sởi là một bệnh nhiễm vi rút cấp tính, virut thược giống Morbillivirus của họ Paramyxoviridea

      Biểu hiện bệnh

      -      Các triệu chứng của sởi là sốt nhẹ hoặc sốt cao 39-400C, sốt liên tục.

      -      Trẻ bị hắt hơi, chảy nước mũi, nước mắt, viêm kết mạc, dử mắc, phù nhẹ mi, ho (có thể ho khan, khàn tiếng hoặc có đờm), tiêu chảy.

      -      Có những chấm nhỏ khoảng 1 mm nổi lên trên niêm mạc má, dễ quan sát khi trẻ há miệng to, chấm có màu đỏ, xung huyết, ở vị trí ngang với răng hàm thứ nhất, dấu hiệu này mất nhanh trong vòng 12-18 giờ.

      -      Sau khi sốt 3-4 ngày, trẻ bị phát ban. Đầu tiên, ban mọc từ sau tai, lan dần 2 bên má, cổ, ngực, chi trên, sau lưng, chi dưới, đến toàn thân.

      -      Ban màu hồng, nhạt, nhẵn, khi ấn vào thì biến mất, có xu hướng kết dính lại với nhau, phát ban xen giữa những khoảng da lành.

      -      Thể nhẹ thì ban rãi rác, thể nặng thì ban dày gần như che kín da, cả gan bàn tay, chân, sau khi bay để lại vết thâm trên da.

      -      Trẻ ăn kém, mệt mỏi, thường thì 3-4 ngày sau khi ban mọc, ban sẽ bắt đầu bay, nhạt màu dần, nơi nào mọc trước thì sẽ bay trước và để lại vết thâm trên da, khoảng 1 tuần sau thì không còn dấu vết gì.

      -      Trẻ lại sức dần, và hết sốt.

      -         Biến chứng của bệnh có thể là sự nhân lên của vi rút hoặc do bội nhiễm vi khuẩn bao gồm viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy, viêm thanh – khí – phế quản và viêm não.

      Xử trí:

                Hiện chưa có thuốc đặc trị. Chủ yếu là điều trị triệu chứng, chăm sóc, phòng ngừa và điều trị biến chứng.

                Phòng ngừa

                Cần tiêm vacxin sởi theo khuyến cáo của Bộ Y tế.

      * Phân biệt sởi và các bệnh sốt phát ban khác

      Thời tiết thay đổi là thời điểm thuận lợi cho các bệnh sốt phát ban bùng phát, điển hình là bệnh Rubella, vì vậy phải có sự phân biệt để tránh nhầm lẫn giữa sởi và các bệnh sốt phát ban khác.

      Rubella - Bệnh sốt phát ban chủ yếu ở nước ta

      Bệnh Rubella hay còn gọi là bệnh sởi Đức, do vi rút Rubella gây ra. Đây là bệnh sốt phát ban lành tính nhưng rất nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai.

      Bệnh rất dễ lây lan, chủ yếu là qua đường hô hấp và người nhiễm bệnh là nguồn bệnh duy nhất. Trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh sẽ là nguồn truyền nhiễm rất cao cho người tiếp xúc, vi rút có thể đào thải nhiều tháng sau khi sinh.

      Những triệu chứng của bệnh Rubella rất nhẹ nên rất khó được phát hiện, đặc biệt ở trẻ em.

      Bệnh khởi phát sau 10 ngày đến 15 ngày kể từ lúc tiếp xúc với người bệnh. Triệu chứng thông thường là mệt mỏi, sốt nhẹ, nhức đầu, sưng hạch kéo dài từ 1 - 7 ngày. Những nốt ban màu hồng mịn, bắt đầu từ mặt và nhanh chóng lan xuống thân, sau đó xuống cánh tay và chân trước trước khi biến mất. Ban tồn tại từ 1-5 ngày, nhưng thường gặp nhất là 3 ngày. Trong khoảng thời gian từ 7 ngày trước phát ban và trong lúc phát ban là thời gian mà người bệnh có khả năng lây bệnh cao nhất.

      Sự nguy hiểm ở đây là bệnh rất dễ lây lan và nguồn lây bệnh không thể phát hiện được cho đến khi người bị nhiễm có triệu chứng phát ban 7 ngày sau đó. Biện pháp cách ly người bệnh đến thời điểm này cũng được xem là đã quá trễ.

      Bệnh Rubella rất nguy hiểm cho phụ nữ mang thai đặc biệt là trong 3 tháng đầu của thai kỳ. 90% phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ sẽ sinh ra em bé bị hội chứng Rubella bẩm sinh như: điếc, đục thủy tinh thể, tật mắt nhỏ, tăng nhãn áp bẩm sinh, tật đầu nhỏ, viêm não, màng não, chậm phát triển tâm thần, gan to, lách to...

      Đối với những người bị bệnh cần phải được cách ly một tuần lễ kể từ lúc phát ban để tránh lây nhiễm cho những người tiếp xúc. Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh Rubella. Biện pháp phòng bệnh duy nhất là tiêm chủng. Loại vắc xin đang sử dụng hiện nay là vắc xin phối hợp ngừa 3 bệnh: sởi, quai bị, Rubella.

      Lịch tiêm chủng của vắc xin ngừa 3 bệnh Rubella, sởi, quai bị được áp dụng như sau: Trẻ em: mũi thứ 1: 12 tháng tuổi; mũi thứ 2: 4-6 tuổi. Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản: một liều duy nhất (phụ nữ chỉ được có thai sau khi tiêm vắc xin được 3 tháng).

      Phân biệt sởi với các sốt phát ban khác

      Tác nhân gây bệnh Sởi là vi rút thuộc giống Morbillivirus của họ paramyxoviridae. Bệnh Sởi là tình trạng nhiễm vi rút cấp tính với sự lây truyền cao. Sau khi vi rút xâm nhập vào cơ thể, biểu hiện khởi đầu là sốt, viêm kết mạc, chảy nước mũi, ho và có nốt kiplik ở niêm mạc miệng.

      Ban đỏ xuất hiện từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của bệnh. Ban bắt đầu mọc ở mặt, sau lan ra toàn thân và kéo dài từ 4 - 7 ngày, có những trường hợp bệnh kết thúc trong tình trạng tróc vảy. Trong thời gian mang bệnh, xét nghiệm máu sẽ tháy lượng bạch cầu giảm.

      Sự nguy hiểm của bệnh Sởi chính là những biến chứng của bệnh, đó là do sự nhân lên của vi rút hoặc do bội nhiễm vi khuẩn gây ra các bệnh viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy, viêm thanh quản, phế quản, khí quản và viêm não. Tất cả mọi người chưa mắc bệnh hoặc được gây miễn dịch chưa đầy đủ đều có nguy cơ bị nhiễm bệnh. Trẻ em là đối tượng nhiễm bệnh dễ dàng và có thể xuất hiện những biến chứng nặng nề. Trẻ sinh ra từ những người mẹ đã bị bệnh sởi trước đây sẽ được miễn dịch thụ động do mẹ truyền cho trong vòng 6 - 9 tháng.

      Hầu hết tử vong khi bệnh sởi xuất hiện thường không do vi rút Sởi gây ra mà do những biến chứng. Sự lây nhiễm của bệnh Sởi do vi rút từ những giọt nước bọt li ti của người bệnh bắn ra khi nói và người lành hít phải khi tiếp xúc, do vậy bệnh rất dễ lây thành dịch.

      Chẩn đoán bệnh thường căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học. Tuy nhiên cách xét nghiệm mẫu bệnh phẩm trong phòng thí nghiệm là đặc biệt cần thiết để phân biệt với các bệnh sốt phát ban khác như Rubella.

      Vắc xin là biện pháp dự phòng tốt nhất

       

       

       

       

       

       

       

      BỆNH QUAI BỊ

      Bệnh quai bị phân bố rộng trên toàn cầu. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc cao hơn ở những vùng dân cư đông đúc, đời sống thấp kém, vùng khí hậu thường xuyên mát hoặc lạnh. Tại Việt Nam, bệnh quai bị thường gặp dưới dạng các vụ dịch vừa, nhỏ hoặc ca bệnh tản phát trên cả nước.  Ở nước ta, bệnh có thể tản phát quanh năm, tuy nhiên thường gặp hơn vào các tháng thu - đông. Khí hậu mát, lạnh và khô hanh giúp cho bệnh quai bị có thể lan truyền mạnh hơn. Dịch quai bị thường xảy ra trong nhóm trẻ em đi nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc đến trường phổ thông, cũng có thể gặp trên nhóm trẻ lớn hoặc thanh niên và người lớn tuổi với tỷ lệ thấp hơn và thường là các trường hợp tản phát. Tỷ lệ mắc ở nam giới thường cao hơn nữ.

      Tác nhân gây bệnh

      - Bệnh gây bởi vi rút quai bị (Mumps virus), thuộc giống Rubulavirus, họ Paramyxoviridae.

      - Khả năng tồn tại: vi rút có thể tồn tại khá lâu ở môi trường ngoài cơ thể: từ 30 – 60 ngày ở nhiệt độ 15 - 200C, khoảng 1-2 năm ở nhiệt độ âm sâu (- 25 tới -700C). Bị diệt nhanh chóng ở nhiệt độ trên 560C, hoặc dưới tác động của tiatử ngoại, ánh sáng mặt trời và những hóa chất khử khuẩn chứa clo hoạt và các chất khử khuẩn bệnh viện thường dùng.

      Đường truyền

      Bệnh quai bị lây theo đường hô hấp. Vi rút có trong các hạt nước bọt hoặc dịch tiết mũi họng bắn ra ngoài không khí khi bệnh nhân ho, hắt hơi, khạc nhổ, nói chuyện..., người lành hít phải trực tiếp hoặc qua các đồ dùng bị nhiễm dịch hô hấp do bệnh nhân thải ra sẽ có nguy cơ mắc bệnh. Những hạt nước bọt chứa vi rút sống gây bệnh kích thước nhỏ (từ 5 - 100 mm) có thể phát tán mạnh trong phạm vi 1,5 mét; những hạt cực nhỏ, dạng khí dung (dưới 5 mm) có thể bay lơ lửng nhiều giờ trong không khí ở những không gian kín, gặp gió các hạt khí dung chứa vi rút có thể phát tán xa hơn.

      Biểu hiện lâm sàng

      - Thời kỳ nung bệnh: Trung bình 14-24 ngày. Không có biểu hiện gì đặc biệt, nhưng từ ngày thứ 15 của bệnh virus quai bị có thể bài xuất ra ngoài làm lây bệnh, chính vì vậy mà dịch quai bị tồn tại dai dẳng khó dập tắt.

      - Thời kỳ khởi phát: Sốt 38-390C hoặc cao hơn, kèm nhứt đầu, mệt mỏi, đau nhứt xương khớp, ăn ngủ kém. Biểu hiện là đau, quanh ống tai ngoài, sau lan ra xung quanh gây khó nói, khó nuốt, khó há miệng.

      - Thời kỳ toàn phát: Tuyến mang tai sưng to, lan ra vùng trước tai, mỏm chũm, lan xuống dưới hàm. Tuyến sưng to làm vành tai bị đẩy ra ngoài, lên trên và làm biến dạng khuôn mặt. Da vùng sưng có mầu sắc bình thường, không nóng đỏ, có tính đàn hồi. Thường sưng cả hai bên tuyến mang tai, bên này sau bên kia từ vài giờ đến vài ngày. Bệnh nhân vẫn còn sốt 38-390C, đâu đầu, chán ăn, khó nuốt, khó nói.

      - Thời kỳ hồi phục:

      Sau 1 tuần tuyến mang tai giảm đau và nhỏ dần, bệnh nhân hết sốt, các triệ chứng khác cũng lui dần và khỏi hẳn.

      Song song với các tổn thương ở tuyến nước bọt, virut quai bị còn làm tổn thương ở ngoài tuyến nước bọt gây viêm tinh hoàn, viêm màng não, viêm não, viêm tụy cấp, viêm thanh khí phế quản, viêm phổi kẽ, viêm da khớp hoặc biểu hiện ở các cơ quan khác như tuyến lệ, tuyến ức, tuyến giác, tuyến vú, buồng trứng. Các tổn thương này thường có triệu chứng không điển hình, diễn biến lành tính.

      Xử trí:

      Cho đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Kháng sinh không có tác dụng, chỉ điều trị triệu chứng.

      Bệnh nhân nên nằm yên, hạn chế đi lại, nhất là đối với thanh niên và đang trong thời gian còn sốt và sưng tuyến nước bọt (4-6 ngày đầu). Chườm nóng vùng hàm, nếu cần dùng thuốc an thần nhẹ, giảm đau.

       Điều trị chống viêm tinh hoàn, buồng trứng, viêm tụy, viêm màng não; chỉ dùng kháng sinh khi có bội nhiễm vi khuẩn theo đúng chỉ định; với các thể nặng có thể dùng globulin miễn dịch kết hợp.

      Thường xuyên súc miệng bằng nước muối hoặc acis boric 5% sau khi ăn. Ăn nhẹ và lỏng những ngày đầu, có thể dùng các bài thuốc kết hợp đông y như dùng đậu xanh 30g tán nhỏ trộn với dấm rồi đắp vào chỗ sưng hoặc dùng hạt gấc mài ngâm rượu rồi xoa vào chỗ sưng.

      Các chỉ định điều trị biến chứng bằng thuốc phải theo chỉ dẫn của bác sĩ.

      Các biện pháp phòng chống dịch

      * Biện pháp dự phòng

      - Trong phòng bệnh: Cách ly bệnh nhân ít nhân 2 tuần.

      - Tuyên truyền giáo dục cho học sinh về tác hại của bệnh quai bị, nhất là ảnh hưởng tới khả năng sinh sản; về đối tượng và cách thức sử dụng vắc xin phòng bệnh chủ động; về các biện pháp vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường; về phát hiện sớm và khai báo bệnh dịch kịp thời cho y tế.

      - Biện pháp dự phòng chủ động có hiệu quả nhất đối với bệnh quai bị là sử dụng vắc xin quai bị sớm cho trẻ từ 12 tháng tuổi.

      - Tuyên truyền giáo dục vệ sinh môi trường sống, vệ sinh nhà ở, nhà trẻ, trường học...theo hướng mở thông thoáng khí, có nhiều ánh sáng, hạn chế bụi bẩn.

       

       

       

       

      KHUYẾN CÁO VỀ PHÒNG CHỐNG THỦY ĐẬU

      * Bệnh Thủy đậu là một bệnh cấp tính do nhiễm vi rút Varicella Zoter (gây ra bệnh Thủy đậu ở trẻ em và bệnh Zona ở người lớn). Vi rút có khả năng sống được vài ngày trong vẩy Thủy đậu khi bong ra tồn tại trong không khí. Bệnh rất dễ lây lan, lây truyền từ người sang người qua đường hô hấp thông qua tiếp xúc trực tiếp, qua dịch tiết mũi họng, dịch từ nốt phỏng Thủy đậu.

      * Khi bị bệnh thường có biểu hiện mệt mỏi, nhức đầu, sốt nhẹ, chảy nước mũi, đau họng và trên da xuất hiện các nốt ban đỏ bắt đầu ở vùng đầu, mắt rồi lan ra toàn thân. Thời kỳ lây truyền của bệnh là 1 - 2 ngày trước khi phát ban và trong vòng 5 ngày sau khi xuất hiện nốt bọng nước đầu tiên. Bệnh thường kéo dài từ 7 - 10 ngày. 

      Bệnh Thủy đậu là bệnh lành tính, không có triệu chứng nặng nề ngoài những mụn nước nhưng rất dễ gây nhiễm trùng da nơi mọc mụn nước, có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết, viêm não tuy ít xảy ra. Phụ nữ mang thai mắc bệnh Thủy đậu sẽ rất nguy hiểm cho thai nhi, có thể gây sảy thai hoặc để lại dị tật cho thai nhi. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, thường gặp vào mùa đông xuân.

      Để chủ động phòng tránh bệnh Thủy đậu, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện một số biện pháp sau:

      1. Hạn chế tiếp xúc với người bị bệnh để phòng tránh lây lan.

      2. Những trường hợp mắc bệnh Thuỷ đậu cần được nghỉ học hoặc nghỉ làm việc từ 7 đến 10 ngày từ lúc khi bắt đầu phát hiện bệnh để tránh lây lan cho những người xung quanh.

      3. Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, sử dụng các đồ dùng sinh hoạt riêng, vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng nước muối sinh lý.

      4. Thường xuyên vệ sinh nhà cửa, trường học, vật dụng sinh hoạt bằng các chất sát khuẩn thông thường.

      5. Tiêm vắc xin phòng bệnh Thủy đậu cho trẻ em từ 12 tháng tuổi.

      KHUYẾN CÁO PHÒNG BỆNH MÙA NẴNG NÓNG

      Để chủ động phòng bệnh mùa nắng nóng, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện các biện pháp sau:

      - Hạn chế đi ra ngoài đường, ngoài trời nóng khi không thật cần thiết. Nếu bắt buộc phải đi ra đường, ngoài trời nóng thì phải đội mũ, mặc quần áo, đeo kính, khẩu trang… chống nóng.

      - Uống nhiều nước, đặc biệt là những người lao động ngoài trời, mất nước nhiều nên uống bổ sung nước chanh hoặc nước pha muối loãng, nước pha Oresol…, tuy nhiên, không nên uống nhiều nước đá hoặc nước quá lạnh dễ gây viêm họng.

      - Không để nhiệt độ điều hòa trong phòng quá thấp; không để gió quạt thổi trực tiếp gần vào người.

      - Thực hiện ăn chín, uống chín; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; tăng cường dinh dưỡng, ăn thêm hoa quả để đảm bảo đủ vitamin, tăng cường sức đề kháng của cơ thể.

      - Tăng cường vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay với xà phòng đặc biệt trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh; vệ sinh mũi, họng hàng ngày bằng nước muối.

      - Thường xuyên lau sạch các bề mặt, vật dụng tiếp xúc hằng ngày, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn/ghế, sàn nhà, đồ chơi trẻ em, dụng cụ học tập… bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường.

      - Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, phân, chất thải của trẻ em phải được thu gom, đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh.

       

       

       

       

       

       

       

       

       

       

       

       

       

       

       

      KHUYẾN CÁO PHÒNG BỆNH ĐAU MẮT ĐỎ

      Bệnh đau mắt đỏ rất dễ mắc, dễ lây lan trong cộng đồng và gây thành dịch. Cho đến nay chưa có vắc xin phòng bệnh, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và những người bị đau mắt đỏ rồi vẫn có thể bị nhiễm lại chỉ sau vài tháng khỏi bệnh.

      Nguyên nhân chủ yếu của bệnh đau mắt đỏ là do vi rút Adenovirus, hoặc do vi khuẩn như liên cầu, tụ cầu, phế cầu gây ra. Bệnh thường gặp vào mùa hè đến cuối mùa thu, khi thời tiết từ nắng nóng chuyển sang mưa, độ ẩm không khí cao, khi giao mùa… là những thời điểm mà cơ thể con người, nhất là những người nhạy cảm với thời tiết dễ bị mệt mỏi, hệ thống miễn dịch yếu nên dễ bị nhiễm bệnh. Bên cạnh đó, môi trường nhiều khói bụi, điều kiện vệ sinh kém, sử dụng nguồn nước ô nhiễm, dùng chung đồ dùng sinh hoạt như khăn mặt, gối… cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển và bùng phát thành dịch.

      Bệnh đau mắt đỏ được biểu hiện chính bằng mắt đỏ và có ghèn. Người bệnh thường đỏ một mắt trước, sau đó lan sang mắt thứ hai. Triệu chứng thường gặp là người bị bệnh cảm thấy khó chịu ở mắt, sau đó cộm như có cát trong mắt, mắt nhiều dử, buổi sáng ngủ dậy hai mắt khó mở do nhiều dử dính chặt, dử mắt có thể có màu xanh hoặc màu vàng tùy tác nhân gây bệnh. Mi mắt sưng nề, mọng, mắt đỏ (do cương tụ mạch máu), đau nhức, nổi cộm, chảy nước mắt. Một số trường hợp viêm kết mạc có giả mạc (giả mạc là lớp màng dai trắng khi lật mi lên mới thấy) thường lâu khỏi hơn các trường hợp khác. Khi bị đau mắt đỏ, người bệnh cũng có thể có thêm các triệu chứng như mệt mỏi, sốt nhẹ, đau họng, ho, xuất hiện hạch ở tai.

      Thông thường người bệnh vẫn nhìn thấy bình thường, thị lực không bị suy giảm nhưng nếu để bệnh nặng, mắt người bệnh có thể bị phù đỏ, có màng trong mắt, xuất huyết dưới kết mạc… thì hậu quả sẽ lớn hơn.

      Bệnh đau mắt đỏ có thể lây qua: Tiếp xúc trực tiếp với người bị bệnh qua đường hô hấp, nước mắt, nước bọt, bắt tay, đặc biệt nước mắt người bệnh là nơi chứa rất nhiều vi rút; Cầm, nắm, chạm vào những vật dụng nhiễm nguồn bệnh như tay nắm cửa, nút bấm cầu thang, điện thoại; đồ vật, đồ dùng cá nhân của nguời bệnh như khăn mặt, chậu rửa mặt…; Dùng chung đồ dùng sinh hoạt như khăn mặt, gối; Sử dụng nguồn nước bị nhiễm mầm bệnh như ao, hồ, bể bơi; Thói quen hay dụi mắt, sờ vào mũi, vào miệng; Bệnh viện, công sở, lớp học, nơi làm việc, nơi công cộng, trên xe buýt, tàu hỏa, máy bay… những nơi có mật độ người đông, cự ly gần rất dễ lây bệnh.

      Đau mắt đỏ tuy là một bệnh cấp tính, triệu chứng rầm rộ, dễ lây nhưng thường lành tính, ít để lại di chứng, tuy nhiên bệnh thường gây ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, học tập và lao động, và có không ít trường hợp bệnh kéo dài, gây biến chứng ảnh hưởng đến thị lực sau này nên mọi người cần có ý thức phòng bệnh tốt và cần được xử trí kịp thời khi mắc bệnh.

      Mầm bệnh có khả năng sống ở môi trường bình thường trong vài ngày và người bệnh vẫn có thể là nguồn lây bệnh sau khi đã khỏi bệnh một tuần. Vì vậy, cách phòng bệnh tốt nhất là thực hiện triệt để các biện pháp vệ sinh và cách ly với người bệnh. Các biện pháp cụ thể mọi người cần thực hiện như sau:

      - Khi có người bị bệnh hoặc nghi bị bệnh đau mắt đỏ, người bệnh cần tuân thủ những điều sau: Lau rửa ghèn, dử mắt ít nhất 2 lần một ngày bằng khăn giấy ẩm hoặc bông, lau xong vứt bỏ khăn, không sử dụng lại; Không tra vào mắt lành thuốc nhỏ của mắt đang bị nhiễm khuẩn; Tránh khói bụi, đeo kính mát cho mắt. Người bệnh cần được nghỉ ngơi, cách ly, dùng thuốc theo đơn của thầy thuốc. Không tự ý mua thuốc nhỏ mắt. Không dùng thuốc nhỏ mắt của người khác.

      Những trường hợp nghi ngờ mắc bệnh đau mắt đỏ cần phải đến cơ sở y tế để được khám, tư vấn và điều trị. Tuyệt đối không đắp các loại lá vào mắt như là trầu, lá dâu...

      Trước tình hình diễn biến phức tạp của thời tiết, đặc biệt trong thời gian gần đây nắng nóng kéo dài, tại một số địa phương xuất hiện bệnh đau mắt đỏ, để chủ động phòng, chống bệnh đau mắt đỏ, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện tốt các biện pháp sau:

      1. Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, sử dụng nước sạch; không đưa tay lên dụi mắt, mũi, miệng; không dùng chung vật dụng cá nhân như: lọ thuốc nhỏ mắt, khăn mặt, kính mắt, khẩu trang…

      2. Vệ sinh mắt, mũi, họng hàng ngày bằng các thuốc nhỏ mắt, nhỏ mũi, nước súc họng thông thường.

      3. Sử dụng xà phòng hoặc các chất sát khuẩn thông thường sát trùng các đồ dùng, vật dụng của người bệnh.

      4. Hạn chế tiếp xúc với người bệnh hoặc người nghi bị đau mắt đỏ.

      5. Người bệnh hoặc người nghi bị đau mắt đỏ cần hạn chế tiếp xúc với người khác; cần được nghỉ học/ nghỉ làm để tránh lây nhiễm người xung quanh và lây lan cộng đồng; đến cơ sở y tế để được khám, tư vấn, điều trị kịp thời, không tự ý điều trị khi chưa có hướng dẫn của cán bộ y tế để tránh biến chứng nặng.

       

       

       

       

      KHUYẾN CÁO PHÒNG CHỐNG CÚM MÙA

      Bệnh cúm mùa là bệnh truyền nhiễm cấp tính với biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sổ mũi, đau họng và ho. Tác nhân gây bệnh chủ yếu do các chủng vi rút cúm A(H3N2), cúm A(H1N1), cúm B và cúm C. Bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao, qua đường hô hấp, qua các giọt nhỏ nước bọt hay dịch tiết mũi họng do hắt hơi, ho khạc.

      Thông thường bệnh diễn biến nhẹ và hồi phục trong vòng 2-7 ngày, nhưng đối với trẻ em, người lớn tuổi, người có bệnh mãn tính về tim phổi, thận, bệnh chuyển hóa, thiếu máu hoặc suy giảm miễn dịch ..., bệnh có thể diễn biến nặng hơn, dễ bị biến chứng và có thể dẫn đến tử vong. Bệnh lưu hành tại nhiều nước trên thế giới, theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, hàng năm có khoảng 5-10% người lớn trưởng thành và khoảng 20-30% trẻ em bị nhiễm bệnh, trong đó có 3 triệu đến 5 triệu trường hợp có diễn biến nặng và khoảng 250 đến 500 nghìn người tử vong.

      Tại Việt Nam, trong 10 năm gần đây hàng năm ghi nhận khoảng từ 1 triệu đến 1,8 triệu trường hợp mắc hội chứng cúm, nguyên nhân chủ yếu do các chủng vi rút cúm A(H3N2), cúm A(H1N1) và cúm B gây nên. Các trường hợp mắc bệnh có xu hướng gia tăng vào mùa đông và mùa xuân.

      Để chủ động giám sát sự lưu hành và biến đổi của các chủng vi rút cúm ở nước ta, Bộ Y tế đã triển khai hệ thống giám sát cúm trọng điểm quốc gia từ năm 2006, giám sát nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính nặng từ đầu năm 2016 và đẩy mạnh hoạt động xét nghiệm chẩn đoán tác nhân gây bệnh cúm tại Trung tâm cúm quốc gia tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, đến nay các đơn vị này đều có khả năng xét nghiệm các chủng vi rút cúm.

      Để chủ động phòng chống cúm mùa, Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện tốt các nội dung sau:

      1. Đảm bảo vệ sinh cá nhân, che miệng khi hắt hơi, thường xuyên rửa tay với xà phòng, vệ sinh mũi, họng hàng ngày bằng nước muối.

      2. Giữ ấm cơ thể, ăn uống đủ chất để nâng cao thể trạng.

      3. Tiêm vắc xin cúm mùa phòng bệnh.

      4. Hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân cúm hoặc các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh khi không cần thiết.

      5. Khi có triệu chứng ho, sốt, sổ mũi, đau đầu, mệt mỏi cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, xử trí kịp thời.

       

      KHUYẾN CÁO PHÒNG CHỐNG BỆNH VIÊM NÃO,

      VIÊM MÀNG NÃO DO MÔ CẦU

      Bệnh viêm não, màng não do não mô cầu là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi khuẩn Neisseria meningitidis gây nên. Vi khuẩn não mô cầu gồm có 4 nhóm chính: A,B,C và D, não mô cầu nhóm A và B thường hay gặp nhất. Ổ chứa vi khuẩn não mô cầu trong tự nhiên là ở người, do vậy nguồn lây bệnh chủ yếu là bệnh nhân và người lành mang vi khuẩn.

      Bệnh lây qua đường hô hấp do hít phải các giọt bắn của dịch tiết hô hấp có chứa mầm bệnh. Mọi người đều có cảm nhiễm với vi khuẩn não mô cầu, nhóm tuổi nguy cơ mắc bệnh cao nhất là lứa tuổi trẻ và cũng ở nhóm tuổi này có số người lành mang vi khuẩn nhiều nhất. Bệnh xuất hiện đột ngột với triệu chứng: Sốt cao, đau đầu dữ dội, nôn, cứng gáy, mệt mỏi, có thể có đau họng, chấm hay mảng xuất huyết, ban xuất huyết hình sao hoặc có thể có mụn nước.

      Bệnh viêm não, màng não do não mô cầu lưu hành ở mọi nơi trên thế giới. Bệnh thường tản phát và có thể gây dịch. Tại Việt Nam, bệnh viêm não, màng não do não mô cầu nhóm A lưu hành ở nhiều nơi, trước kia có thể gây thành dịch, tuy nhiên hiện nay bệnh chỉ xuất hiện rải rác trong năm.

      Để phòng bệnh viêm não, màng não do não mô cầu, tránh lây lan trong cộng đồng, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo mạnh mẽ người dân thực hiện tốt một số biện pháp sau:

      1.     Thực hiện tốt vệ sinh cá nhân: thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, súc miệng, họng bằng các dung dịch sát khuẩn mũi họng thông thường.

      2.     Thực hiện tốt vệ sinh nơi ở, thông thoáng nơi ở, nơi làm việc, trường học.

      3.     Chủ động tiêm phòng vắc xin phòng bệnh cho trẻ tại các cơ sở tiêm chủng dịch vụ.

      4.     Khi có biểu hiện sốt cao, đau đầu, buồn nôn và nôn, cổ cứng, cần đến ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị  kịp thời.

       

       

       

       

       

       

       

      PHÒNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT

      Bệnh sốt xuất huyết là gì?

      Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể gây thành dịch do vi rút dengue gây ra. Bệnh lây lan do muỗi vằn đốt người bệnh nhiễm vi rút sau đó truyền bệnh cho người lành qua vết đốt. Hai loại muỗi vằn truyền bệnh có tên khoa học là Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó chủ yếu là do Aedes aegypti.

      Bệnh xảy ra ở tất cả các nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới. Ở Việt Nam, bệnh lưu hành rất phổ biến, ở cả 4 miền Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên, kể cả ở thành thị và vùng nông thôn, bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường bùng phát thành dịch lớn vào mùa mưa, nhất là vào các tháng 7, 8, 9, 10.

      Sự nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết:

      ·                     Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh.

      ·                     Thường gây ra dịch lớn với nhiều người mắc cùng lúc làm cho công tác điều trị hết sức khó khăn, có thể gây tử vong nhất là với trẻ em, gây thiệt hại lớn về kinh tế, xã hội.

      ·                     Bệnh sốt xuất huyết do vi rút Dengue gây ra với 4 típ gây bệnh được ký hiệu là D1, D2, D3, D4. Cả 4 típ gây bệnh này đều gặp ở Việt Nam và luân phiên gây dịch. Do miễn dịch  được tạo thành sau khi mắc bệnh chỉ có tính đặc hiệu đối với từng típ cho nên người ta có thể mắc bệnh sốt xuất huyết lần thứ 2 hoặc thứ 3 bởi những típ khác nhau. 

      Đặc điểm của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết:

      ·                     Muỗi có màu đen, thân và chân có những đốm trắng thường được gọi là muỗi vằn.

      ·                     Muỗi vằn cái đốt người vào ban ngày, đốt mạnh nhất là vào sáng sớm và chiều tối.

      ·                     Muỗi vằn thường trú đậu ở các góc/xó tối trong nhà, trên quần áo, chăn màn, dây phơi và các đồ dùng trong nhà.

      ·                     Muỗi vằn đẻ trứng, sinh sản ở các ao, vũng nước hoặc các dụng cụ chứa nước sạch ở trong và xung quanh nhà như bể nước, chum, vại, lu, khạp, giếng nước, hốc cây... các đồ vật hoặc đồ phế thải có chứa nước như lọ hoa, bát nước kê chạn, lốp xe, vỏ dừa... Muỗi vằn phát triển mạnh vào mùa mưa, khi nhiệt độ trung bình hàng tháng vượt trên 20º C.

      Biểu hiện của bệnh:

      Thể bệnh nhẹ: 

      ·                     Sốt cao đột ngột 39 - 40 độ C, kéo dài 2 - 7 ngày, khó hạ sốt.

      ·                     Đau đầu dữ dội ở vùng trán, sau nhãn cầu.

      ·                     Có thể có nổi mẩn, phát ban.

      Thể bệnh nặng:

      Bao gồm các dấu hiệu trên kèm theo một hoặc nhiều dấu hiệu sau:

      ·                     Dấu hiệu xuất huyết: Chấm xuất huyết ngoài da, chảy máu cam, chảy máu chân răng, vết bầm tím chỗ tiêm, nôn/ói ra máu, đi cầu phân đen (do bị xuất huyết nội tạng).

      ·                     Đau bụng, buồn nôn, chân tay lạnh, người vật vã, hốt hoảng (hội chứng choáng do xuất huyết nội tạng gây mất máu, tụt huyết áp), nếu không được cấp cứu và điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong.

      Cần làm gì khi nghi ngờ bị sốt xuất huyết:

      ·                     Đưa ngay người bệnh đến cơ sở y tế để được khám, điều trị kịp thời.

      Cách phòng bệnh sốt xuất huyết:

      Cách phòng bệnh tốt nhất là diệt muỗi, lăng quăng/bọ gậy và phòng chống muỗi đốt.

      - Loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, diệt lăng quăng/bọ gậy bằng cách:

      + Đậy kín tất cả các dụng cụ chứa nước để muỗi không vào đẻ trứng.

      + Thả cá hoặc mê zô vào các dụng cụ chứa nước lớn (bể, giếng, chum, vại...) để diệt lăng quăng/bọ gậy.

      + Thau rửa các dụng cụ chức nước vừa và nhỏ (lu, khạp…) hàng tuần.

      + Thu gom, hủy các vật dụng phế thải trong nhà và xung quanh nhà như chai, lọ, mảnh chai, mảnh lu vỡ, ống bơ, vỏ dừa, lốp/vỏ xe cũ, hốc tre, bẹ lá..., dọn vệ sinh môi trường, lật úp các dụng cụ chứa nước khi không dùng đến.

      + Bỏ muối hoặc dầu vào bát nước kê chân chạn/tủ đựng chén bát, thay nước bình hoa/bình bông.

      - Phòng chống muỗi đốt:

      + Mặc quần áo dài tay.

      + Ngủ trong màn/mùng kể cả ban ngày.

      + Dùng bình xịt diệt muỗi, hương muỗi, kem xua muỗi, vợt điện diệt muỗi...

      + Dùng rèm che, màn tẩm hóa chất diệt muỗi.

      + Cho người bị sốt xuất huyết nằm trong màn, tránh muỗi đốt để tránh lây lan bệnh cho người khác.

      - Tích cực phối hợp với chính quyền và ngành y tế trong các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch.

       

      Các tin đã đăng
 
Trần Quang Liêm
Học sinh: 12/2
Học sinh giỏi cấp Quốc gia
--------------------------------------
Lê Quốc Việt
Học sinh: 12/2
Học sinh giỏi cấp Quốc Gia
--------------------------------------
Tin mới nhất
Lịch công tác
Thăm dò ý kiến
  Bạn đánh giá thế nào về website của trường?
  • Website rất đẹp  28%
  • Website đẹp  3%
  • Website bình thường  67%
  • Thông tin truy cập
        Số Online : 1
        Số tin đăng : 244
        Số lượng truy cập
    @ Bản quyền thuộc về Trường Trung học Phổ Thông Phan Thành Tài
    Trưởng ban biên tập: Hiệu trưởng Lê Đức Hà
    Địa chỉ: Quốc lộ 1A, Hòa Châu, H.Hòa Vang, TP Đà Nẵng - Điện thoại: 0236.3684245
    Trình duyệt tốt nhất Mozilla Firefox
    Độ phân giải tốt nhất từ 1024x768 trở lên