CÁC CHUYÊN MỤC
Văn bản mới
Thư viện ảnh
Skip Navigation Links.
Expand Ngày nhà giáo Việt NamNgày nhà giáo Việt Nam
Expand Hoạt động của trườngHoạt động của trường
Expand Tổng kết năm họcTổng kết năm học
Expand Khai giảng năm họcKhai giảng năm học
Expand Hoạt động Công ĐoànHoạt động Công Đoàn
Ảnh nhân sự nhà trường
hoạt động
Tìm kiếm thông tin
Tiêu đề:
Từ khóa:
Liên kết Website
  • Bản tin chi tiết
    • Tiểu sử về chí sĩ Phan Thành Tài
      Các em học sinh vào xem tiểu sử về chí sĩ Phan Thành Tài

       

       

                                          TIỂU SỬ VỀ CHÍ SĨ PHAN THÀNH TÀI

                                    (1878 - 1916)

      Ông Phan Thành Tài sinh năm Mậu Dần 1878 tại làng Bảo An Tây, tổng Đa Hòa, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, nay thuộc thôn Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông là người Phái Nhì, đời thứ 13, hiệu là Đạt Đức, còn có hiệu là Trúc Sơn, người trong làng, trong tộc thường gọi là ông Học Tài. Ông sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng. Thân sinh là cụ Phan Thành Tích, đỗ Cử nhân khoa Mậu Tý (1988) được bổ Giáo thụ tại một Phủ ở Bình Thuận. Thân mẫu là cụ Lê Thị Truyền người làng Vân Ly.

      Vợ là bà Bùi Thị Hậu, thứ nữ của ông Bùi Thân tức Quản Nghi, một nhà hào phú đất Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên. Ông bà sinh hạ được 4 trai là Phan Bá Lân, Phan Kình, Phan Thuyết, Phan Út và 3 gái là Phan Thị Dao, Phan Thị Soạn và Phan Thị Bí.

      Lúc nhỏ ông theo học chữ Hán với quan Huấn đạo hưu trí, cử nhân Lê Cung người làng Nông Sơn, huyện Điện Bàn. Sớm giác ngộ, ông bỏ học chữ Hán theo học Quốc ngữ và chữ Pháp tại Đà Nẵng.

      Sau khi tốt nghiệp trung học, chính quyền Pháp bổ ông làm thông ngôn tại dinh Tổng Đốc Bình Phú (Bình Định và Phú Yên) dưới thời Tổng Đốc Dương Lâm. Sau đổi qua làm thông phán tại Bác Cổ Học Viện Nam Kỳ tại Sài gòn. Theo con đường quan tước, hợp tác với Pháp - mặc dù trong lĩnh vực chuyên môn - để được vinh thân, không phù hợp với nguyện vọng và chí hướng của mình, ông từ bỏ tất cả trở về quê nhà.

      Năm 1902-1908 ông dạy quốc ngữ và tiếng Pháp tại trường Nghĩa Thục Diên Phong, một trong những nghĩa thục lớn nhất thời bấy giờ. Ông luôn chăm lo đào tạo một lớp trẻ biết yêu nước thương dân, mở mang dân trí, bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan từ lâu đã tồn tại trong đời sống ở nông thôn.

      Năm 1904 ông tích cực hưởng ứng và tham gia phong trào Duy Tân do các ông Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp ... khởi xướng. Tại Nam Thành Sơn Trang của Nguyễn Thành ở Thăng Bình, Duy Tân Hội được thành lâp. Ông cùng tiến sĩ Trần Quý Cáp, cử nhân Phan Thúc Duyện, cử nhân Mai Dị, tú tài Trương Bá Huy thành lập Nghĩa Thục Diên Phong nhằm cổ vũ, động viên mọi người tham gia phong trào Duy Tân.

      Năm 1909 - 1912: Các yếu nhân của phong trào chống thuế năm 1908 chưa sa vào tay giặc Pháp ngấm ngầm hoạt động trở lại. Ông là người tiên phong gia nhập Việt Nam Quang Phục Hội. Đây là một tổ chức cách mạng với tôn chỉ đánh đuổi giặc Pháp xâm lược, giành độc lập tự do, thành lập một nước Việt Nam độc lập do Phan Bội Châu khởi xướng và thành lập tại Quảng Châu Trung Quốc, đứng đầu là Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Năm 1915 hội trở thành một đảng chống Pháp trong nước, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa lật đổ nền thống trị của Pháp.

       - Trần Cao Vân đúc 4 ấn kinh lược để sử dụng sau khi cách mạng thành công: Ấn Bình Trị (Quảng Bình, Quảng Trị), ấn Bình Phú (Bình Định, Phú Yên), ấn Nam Ngãi (Quảng Nam, Quảng Ngãi), ấn Khánh Thuận (Khánh Hòa, Bình Thuận).

      Sắp đặt xong xuôi, định đến đúng 1 giờ sáng mồng 2 tháng 4 năm Bính Thìn (03/5/1916) thì khởi sự. Trong đêm ấy Trần Cao Vân và Thái Phiên phò vua Duy Tân xuất cung để tránh ngôi vua bù nhìn do Pháp bảo hộ rồi sau khi thành công sẽ phục vị.

      Không ngờ chiều ngày mồng 2 dương lịch ở Quảng Ngãi tên lính giảng là Võ Huệ có em là Võ An làm lính tập, là người có dự vào cuộc âm mưu nói trên, báo cho anh biết sắp có sự biến động. Võ Huệ xin phép về nhà nghỉ để tránh tai biến. Quan tỉnh nghi ngờ cật vấn Huệ và biết tất cả dự mưu sắp xảy ra bèn báo cho viên trú sứ Pháp là De Tates điện về Huế. Nhà chức trách thu hết súng đạn và giữ hết binh lính trong các đồn trại không cho ra ngoài. Tối hôm ấy lúc 8 giờ, vua Duy Tân rời bỏ cung điện bên cạnh có Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu phò giá. Trần Cao Vân và Thái Phiên cho thuyền đậu sẵn ở bến Thương Bạc chờ rước vua lên đường. Nhưng quân Pháp đã biết trước tuần tiểu các ngã kinh thành, sẵn sàng đàn áp cuộc biến động. Cuộc khởi nghĩa đầu nảo tại Huế bị thất bại ngay từ lúc chưa khởi động. Các nơi chờ mãi đến 1 giờ sáng như đã định vẫn không có phát lệnh từ Huế, đèo Hải Vân cũng không có đốt lửa báo hiệu. Lực lượng khởi nghĩa ở phía Nam Ngãi cũng đành phải nằm im. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Các nhân vật linh hồn của cuộc khởi nghĩa đều bị Pháp bắt. Vua Duy Tân bị Pháp đày sang đảo Réunion ở Châu Phi. Ở Huế, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu, Phạm Hữu Khánh ... bị đem ra chém tại pháp trường An Hòa.

      Ở Quảng Nam, Pháp bắt tất cả đưa đi tù hoặc đi đày như Lê Đình Dương bị đày vào nhà lao ở Khánh Hòa và chết trong nhà lao Ban Mê Thuột. Phan Thành Tài và ông Lương Thái Hòa trốn thoát lên miền núi Hiên Giằng, được người thượng tên là U-They che dấu. Quân Pháp truy lùng ráo riết nhưng không bắt được Phan Thành Tài. Chúng bèn dùng hạ sách, bao vây làng Bảo An, dọa nếu Phan Thành Tài không về nạp mình thì sẽ làm cỏ cả làng và xóa tên làng Bảo An nhập vào các làng khác. Ông phải về chịu trói để người làng không bị giết.

      Quân Pháp đưa ông về giam ở nhà lao Vĩnh Điện. Sau nhiều ngày dụ dỗ đầu hàng không được, giặc Pháp mang ông ra hành quyết tại một cồn hoang, gần chợ Vĩnh Điện bây giờ, vào lúc trời chưa sáng ngày 09/6/1916 (Mồng 9 tháng 5 năm Bính Thìn).

      Mộ ông hiện nay nằm bên bờ sông đào Vĩnh Điện. Từ Đà Nẵng theo quốc lộ 1A đi về hướng Nam, qua khỏi cầu Vĩnh Điện khoảng dưới 100m, rẽ trái đi theo đường đất dọc bờ sông khoảng 500m là đến mộ. Theo quyết định số 320, ngày 01/12/1994 của Sở Văn Hóa Thông Tin Quảng Nam Đà Nẵng công nhận mộ ông Phan Thành Tài là “Di tích lịch sử ”. Ngôi mộ được trùng tu và nâng cấp năm 2000. Thành phố Đà Nẵng đã quyết định lấy tên ông đặt tên con đường mới mở nối liền hai đường Núi Thành cũ và Tiểu La (đường Bạch Đằng nối dài), bên cạnh kho xăng dầu.

      Sau khi ông Phan Thành Tài bị giặc Pháp hành quyết, nhà cửa bị tịch thu và phát mại. Vợ ông là bà Bùi Thị Hậu lúc ấy mới 35 tuổi, bà quyết ở vậy nuôi các con ăn học thành tài. Bà mất ngày 02/6/1967 (28/4 năm Đinh Mùi) tại trường Đạt Đức tại Gia Định, thọ 87 tuổi.


       

       

      Các tin đã đăng
 
Trần Quang Liêm
Học sinh: 12/2
Học sinh giỏi cấp Quốc gia
--------------------------------------
Lê Quốc Việt
Học sinh: 12/2
Học sinh giỏi cấp Quốc Gia
--------------------------------------
Tin mới nhất
Lịch công tác
Thăm dò ý kiến
  Bạn đánh giá thế nào về website của trường?
  • Website rất đẹp  28%
  • Website đẹp  3%
  • Website bình thường  67%
  • Thông tin truy cập
        Số Online : 1
        Số tin đăng : 244
        Số lượng truy cập
    @ Bản quyền thuộc về Trường Trung học Phổ Thông Phan Thành Tài
    Trưởng ban biên tập: Hiệu trưởng Lê Đức Hà
    Địa chỉ: Quốc lộ 1A, Hòa Châu, H.Hòa Vang, TP Đà Nẵng - Điện thoại: 0236.3684245
    Trình duyệt tốt nhất Mozilla Firefox
    Độ phân giải tốt nhất từ 1024x768 trở lên